Bạn có thể chuyển sang phiên bản mobile rút gọn của Zing News nếu mạng chậm. Đóng
M

Công an được từ chối cho chuyển khẩu vì tảo hôn?

Đi làm thủ tục chuyển khẩu về gia đình người mình đang chung sống như vợ chồng, tôi bị công an xã từ chối do tảo hôn. Xin hỏi luật sư, họ làm như vậy là đúng hay sai?​

Tôi chưa đủ tuổi kết hôn nhưng vẫn về sống với người khác như vợ chồng (tảo hôn) do đó chưa có đăng ký kết hôn. Nay tôi muốn chuyển hộ khẩu từ gia đình mình về gia đình người đang chung sống như vợ chồng (chồng tôi). Tuy nhiên, cán bộ công an xã không đồng ý cho tôi được nhập hộ khẩu.

Vậy xin luật sư cho biết, việc làm của cán bộ công an xã là đúng hay sai? Xin cảm ơn luật sư!  

Ngọc Liên (Hà Nội)

Để khẳng định việc cán bộ công an xã không đồng ý cho bạn nhập hộ khẩu là đúng hay sai cần phải xem xét căn cứ và thủ tục nhập hộ khẩu theo Luật cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật sư Phan Thị Lam Hồng (Công ty luật TNHH Đông Hà Nội - Đoàn Luật sư Hà Nội) tư vấn như sau:

Theo quy định tại Điều 23 của Luật cư trú thì người đã đăng ký thường trú mà thay đổi chỗ ở hợp pháp thì trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới có trách nhiệm làm thủ tục thay đổi nơi đăng ký thường trú.

Xét đối với trường hợp trên, việc bạn chuyển đến ở nhà người chồng (chưa đăng ký kết hôn) là đã có sự thay đổi chỗ ở, do đó, bạn phải tiến hành thủ tục thay đổi nơi đăng ký thường trú. Vì trong các thông tin trên chưa nêu rõ bạn đăng ký nhập hộ khẩu thường trú vào tỉnh hay thành phố trực thuộc trung ương nên chưa thể xác định rõ việc cán bộ công an xã trả lời có phải đúng thẩm quyền hay không.

Nếu bạn nhập hộ khẩu vào thành phố trực thuộc trung ương thì thẩm quyền giải quyết hồ sơ của bạn phải thuộc về cơ quan công an cấp huyện, bạn đăng ký nhập hộ khẩu tại tỉnh thì thẩm quyền thuộc về cơ quan công an cấp xã.

Nếu đúng thẩm quyền giải quyết thuộc về cơ quan công an xã thì tùy từng trường hợp, trả lời của cán bộ công an xã đối với việc đăng ký thường trú của bạn được xác định như sau:

Trường hợp 1: Bạn đăng ký nhập hộ khẩu với lý do nhập vào hộ khẩu nhà chồng.

Trong trường hợp này, nếu bạn đưa ra lý do đã tổ chức kết hôn với người chồng (chưa đăng ký kết hôn) để nhập hộ khẩu và trong hồ sơ xin nhập hộ khẩu (đăng ký thường trú) không cung cấp đầy đủ giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp (hợp đồng thuê hoặc mượn hoặc ở nhờ và Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở của bên cho thuê - ở đây là nhà người chồng; văn bản của nhà người chồng đồng ý cho ở nhờ, thuê…) thì trả lời của cán bộ cơ quan công an xã là hoàn toàn hợp lý và có căn cứ bởi vì:

+ Một là, bạn chưa đăng ký kết hôn với người chồng đang sống cùng với mình,

+ Hai là, bạn chưa thực hiện đúng thủ tục về đăng ký thay đổi hộ khẩu thường trú.

Trường hợp 2: Bạn không đăng ký nhập hộ khẩu với lý do nhập vào hộ khẩu nhà chồng mà thực hiện đúng thủ tục đăng ký hộ khẩu thường trú do có thay đổi chỗ ở hợp pháp (chỗ ở hợp pháp là ở nhờ, mượn hoặc thuê). Tức là, khi đi làm thủ tục tại cơ quan công an xã, bạn cung cấp đầy đủ các hồ sơ được quy định tại Thông tư số 35/2014/TT-BCA.

Cụ thể, hồ sơ bao gồm các giấy tờ như sau: Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; Bản khai nhân khẩu; Giấy chuyển hộ khẩu; Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp quy định tại Điều 6 Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014. ; Ý kiến đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ hoặc cha hoặc mẹ, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã do bạn là người chưa thành niên và không đăng ký thường trú cùng cha, mẹ.

Bên cạnh đó, nếu bạn đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương thì còn phải tuân thủ các quy định tại Điều 19 Luật thủ đô.

Nếu bạn đã nộp hồ sơ bao gồm đầy đủ các giấy tờ nêu trên mà cán bộ công an xã vẫn xác nhận bạn không đủ điều kiện để nhập vào hộ khẩu của nhà người chồng thì hành vi của cán bộ xã là trái với quy định của pháp luật, cản trở quyền cư trú của công dân. Bạn có thể khiếu nại tới thủ trưởng cơ quan công an xã để đề nghị giải quyết.

Ngoài ra, bạn cũng cần lưu ý rằng, vì bạn chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn (đủ 18 tuổi trở lên) nên hành vi của người chung sống với bạn như vợ chồng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Giao cấu với trẻ em quy định tại Điều 115 Bộ luật hình sự nếu thỏa mãn cấu thành của tội này.

    Vân Thanh

    Bình luận

    Bạn có thể quan tâm

    Tư vấn luật Pháp đình Pháp luật